5/11/18

Giải quyết vấn đề lớn trong cơ chế tự chủ đại học

Trong thực hiện quyền tự chủ của các trường đại học công lập, nổi lên hai vấn đề là quản lý tự chủ nhân sự và quản lý tự chủ tài chính.

Đại biểu Quốc hội Ksor H’Bơ Khăp (Gia Lai) phát biểu tại hội trường. (Ảnh: VTC)
Đại biểu Quốc hội Ksor H’Bơ Khăp (Gia Lai) phát biểu tại hội trường. (Ảnh: VTC)

» Đại biểu quốc hội: Không xây nhà trên móng của người khác
» Tuần làm việc thứ 2 kỳ họp thứ 6: phiên chất vấn để lại nhiều ấn tượng
» Hôm nay 5/11, Quốc hội thảo luận về Hiệp định CPTPP
» Quốc hội sẽ thông qua 2 Nghị quyết quan trọng, thảo luận các dự án Luật

Yêu cầu đặt ra hiện nay là cần kiểm soát chặt chẽ trường Đại học tự chủ thực hiện đúng các quy định về quản lý nhân sự và quản lý tài chính; tổ chức các hoạt động kiểm định, bảo đảm chất lượng giáo dục độc lập, đúng thực chất;

ban hành lại, chi tiết hóa quy chế hoạt động của các trường đại học công lập hoạt động theo cơ chế tự chủ và hình thành các hội đồng trường hoạt động đúng thực chất.

Trong thực hiện quyền tự chủ của các trường đại học (ĐH) công lập hiện nay, nổi lên hai vấn đề là quản lý tự chủ nhân sự và quản lý tự chủ tài chính.

Quản lý tự chủ nhân sự và quản lý tự chủ tài chính

Việc tự chủ của các trường đại họ công lập một mặt là nhu cầu cấp thiết của quá trình phát triển giáo dục đại học (GDĐH) hiện nay. Mặt khác, các quy định, cơ chế tự chủ cho các trường ĐH công lập được ban hành sớm, cập nhật và đầy đủ.

Trên thực tế, các trường ĐH hoạt động theo cơ chế tự chủ được giao quản lý một khối lượng cơ sở vật chất, tài sản và nhân lực rất lớn. Điều này dẫn tới các trường được quyết định những vấn đề rất lớn. Về bản chất, các trường ĐH công lập theo cơ chế tự chủ mặc dù được quyền tự chủ các hoạt động nhưng vẫn cần tuân theo các quy định của pháp luật liên quan.

Tuy nhiên, các quy định về tự chủ hiện nay rất chung chung, công tác kiểm tra việc thực hiện còn rất hạn chế. Điều này dẫn đến nhiều trường ĐH công lập hoạt động theo cơ chế tự chủ đã tự vận dụng các quy định này trái với nhiều quy định của pháp luật. Nếu không được khắc phục sớm, rất dễ xảy ra các trường hợp như đã xảy ra tại các doanh nghiệp nhà nước giai đoạn trước.

Trong thực hiện các quyền tự chủ hiện nay, nổi lên hai vấn đề là quản lý tự chủ nhân sự và quản lý tự chủ tài chính.

Ở Việt Nam hiện nay, các trường đại học công lập vẫn do nhà nước đầu tư toàn bộ nên việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, tuyển dụng mặc dù không chịu sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nước trong các trường hợp cụ thể, nhưng vẫn phải tuân theo các quy định của pháp luật tại Luật Công chức, Luật Viên chức, Luật Lao động và các văn bản dưới luật quy định chi tiết các vấn đề này.

Việc giám sát của nhà nước đối với quá trình tự chủ nguồn nhân lực của các trường đại học rất quan trọng, tránh để các trường đại học tuyển dụng, bổ nhiệm những nhân sự quá tuổi, nhân sự không đủ tiêu chuẩn chức danh vào các vị trí quản lý nhân danh việc "tự chủ" trong nguồn nhân lực.

Hiện nay, nhiều trường Đại học công lập hoạt động theo cơ chế tự chủ vi phạm rất nghiêm trọng các nguyên tắc quản lý nhân sự dưới danh nghĩa tự chủ, tiềm ẩn nhiều nguy cơ?

Đầu tiên, cần giám sát để hiệu trưởng trường đại học công lập tự chủ không thể bổ nhiệm các người thân tín, người nhà, người không đủ tiêu chuẩn vào các chức vụ quản lý mua sắm, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, kế toán trưởng. Điều này sẽ dẫn tới vô hiệu hóa các cơ chế kiểm soát nội bộ, dễ dẫn tới tham ô, tham nhũng, thất thoát tài sản nhà nước.

Thứ hai, cần giám sát để các trường tự chủ không thể bổ nhiệm người không đủ tiêu chuẩn, không đủ điều kiện vào các chức vụ quản lý tại các trường tự chủ.

Mặc dù nghị quyết số 77/2014 NQ-CP, luật giáo dục 2012, quy chế tự chủ của các trường Đại học công lập do Bộ GD ĐT ban hành quy định rất rõ các trường được tự chủ về phương án tuyển dụng và sử dụng nhân sự nhưng phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện về tổ chức nhân sự tại các luật như Luật công chức, Luật viên chức, Luật lao động, Luật kế toán và các văn bản dưới luật quy định chi tiết các vấn đề này.

Tuy nhiên, có không ít trường phớt lờ các quy định này, bổ nhiệm các nhân sự quá tuổi, nhân sự không đảm bảo tiêu chuẩn vào các chức danh quản lý. Thậm chí có trường bổ nhiệm người quá tuổi nghỉ hưu 5 tuổi vào các chức vụ chủ chốt của trường. Điều này dẫn tới tình trạng không huy động, phát triển được nhân lực khoa học trẻ, làm thui chột động lực phát triển của các trường Đại học tự chủ.

Khía cạnh thứ ba, cần giám sát hiệu trưởng các trường Đại học tự chủ không thể tuyển dụng ồ ạt các nhân sự trong nhiệm kỳ của mình nhân danh tự chủ tuyển sinh, phả cần có tỷ lệ sinh viên trên giảng viên thấp. Tuy nhiên, điều này tiềm ẩn gánh nặng cho các trường đại học khi quy mô tuyển sinh không thay đổi được do vướng các chỉ tiêu khác như diện tích, cơ sở vật chất trên mỗi sinh viên, nhưng vẫn phải “è cổ” trả lương.

Về tự chủ tài chính, quy chế tự chủ hiện nay cho phép các trường được quy định cách tính mức chi theo quy chế chi tiêu nội bộ. Đây là một nhu cầu cấp thiết khi các quy định về tài chính hiện hành trong một số trường hợp không bảo đảm tốt nhu cầu hoạt động của các trường đại học.

Tuy nhiên, đối với các dự án đầu tư lớn, các hoạt động mua sắm cần phải tuân theo các quy định trong luật đấu thầu, các quy định khác về tài chính. Tránh trường hợp các trường đại học tự quyết các vấn đề mua sắm thường xuyên, mua sắm cơ sở vật chất, các khoản đầu tư lớn nhưng không có kiểm soát, rất dễ dẫn tới vi phạm, làm thất thoát số lượng lớn tài sản của nhà nước.

Phải hoạt động đúng thực chất

Để giải quyết hợp lý những vấn đề nêu trên, cần làm thật chuẩn cho được một số nội dung sau: Thứ nhất, cần tổ chức các hoạt động kiểm định, bảo đảm chất lượng giáo dục độc lập, đúng thực chất.

Các cơ sở kiểm định chất lượng giáo dục cần hoạt động độc lập với các trường đại học (cần tách các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục ra khỏi các đại học quốc gia như hiện nay), hình thành các cơ sở kiểm định giáo dục chất lượng mạnh trực thuộc Bộ giáo dục và đào tạo; khuyến khích hình thành các cơ sở kiểm định giáo dục chất lượng thuộc các đơn vị tư nhân và các tổ chức từ nước ngoài.

Thứ hai, cần ban hành lại và chi tiết hóa quy chế hoạt động của các trường đại học công lập hoạt động theo cơ chế tự chủ. Trong giai đoạn đầu của quá trình tự chủ, cần thiết phải đẩy mạnh hoạt động thanh, kiểm tra việc thực hiện các quy định trong quy chế hoạt động của các trường đại học công lập hoạt động theo cơ chế tự chủ và việc chấp hành các quy định của pháp luật liên quan.

Thứ ba, hình thành các hội đồng trường hoạt động đúng thực chất. Hội đồng trường của một trường đại học công lập về bản chất khác đôi chút so với hội đồng quản trị của một trường đại học tư thục.

Tuy nhiên, cả hai hội đồng này đều phải có vai trò giám sát đối với Hiệu trưởng trong việc điều hành các công việc hàng ngày của trường. Các thành viên của hội đồng trường phải là thành viên có uy tín trong xã hội, phải do toàn bộ các thành viên trong trường bầu ra, bao gồm cả chức danh Chủ tịch hội đồng trường.

Danh sách tất cả các thành viên này phải được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước khi chính thức có hiệu lực và đi vào hoạt động. Vì bản chất đây chính là những thành viên đại diện cho nhà nước, cho cộng đồng đóng vai trò “người ủy quyền” trong một trường đại học.

Hiện nay, mặc dù luật quy định hội đồng trường là cơ quan có quyền lực cao nhất của một trường đại học bên cạnh Đảng ủy quản lý các đảng viên trong một trường đại học. Nhưng trên thực tế, Hiệu trưởng của một trường đại học thường có vai trò quyết định trong tất cả các hoạt động của nhà trường.

Vai trò của Chủ tịch hội đồng trường, thậm chí là của bí thư Đảng ủy tại một số trường mờ nhạt. Các thành viên của hội đồng trường của một số trường đại học được giới thiệu lại là những nhân sự được cho là thân quen với Hiệu trưởng, từ đó vô hiệu hóa hoạt động của hội đồng trường.

Để hội đồng trường hoạt động đúng nghĩa, bảo đảm đúng chất lượng, các cơ quan quản lý nhà nước cần quy định cơ cấu của hội đồng trường; các thành viên trong hội đồng trường, kể cả các thành viên độc lập cần được trả lương;

cần công khai các danh sách của các thành viên hội đồng trường trên website của nhà trường như là một yêu cầu bắt buộc; đồng thời, đưa chất lượng của thành viên hội đồng trường như là một tiêu chí để xếp hạng các trường đại học và là tiêu chí kiểm định chất lượng.

Chất lượng giáo dục đại học cần gắn với mục tiêu bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình phát triển của đất nước.

Điều này cần gắn với kết quả cuối cùng của quá trình đào tạo đạt chất lượng sinh viên ra trường và việc làm cho sinh viên sau khi ra trường.

Tuy nhiên, các quy định hiện nay về bảo đảm chất lượng sinh viên ra trường vẫn còn hết sức đơn giản. Hầu hết dựa vào tuyên bố chuẩn đầu ra của các trường đại học.

Việc khảo sát đánh giá của nhà tuyển dụng về chất lượng chương trình đào tạo, chất lượng sinh viên vẫn còn rất hình thức, chủ yếu do các trường đại học tự triển khai và công bố.

Thậm chí, việc thống kê số lượng việc làm của sinh viên ra trường được giao cho chính các trường đại học thực hiện. Điều này dẫn đến các trường có thể thay đổi số liệu, vì mục tiêu tăng số lượng tuyển sinh của trường mình.